Tin Kinh tế- xã hội  > Thị trường, giá cả

Xuất khẩu gạo 8 tháng đầu năm 2013 và giải pháp tháo gỡ khó khăn

Cập nhật lúc: 07/10/2013 09:32:27 AM

Sản xuất, xuất khẩu (XK) gạo của Việt Nam vẫn đang đối mặt với những khó khăn, thách thức to lớn và đòi hỏi cần có những giải pháp phù hợp.

8 tháng đầu năm 2013 giảm cả số lượng và trị giá

Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), 8 tháng đầu năm, lượng gạo XK của Việt Nam đạt gần 4,7 triệu tấn, trị giá XK (theo giá FOB) đạt 2,005 tỷ USD. So với cùng kỳ năm 2012 XK gạo của Việt Nam giảm cả số lượng và trị giá (số lượng giảm 7,86%, trị giá 10,98%).  Cùng với đó, mức giá XK bình quân cũng giảm. Giá gạo XK giảm dần từ đầu tháng 8 đến cuối tháng khoảng 20 USD/tấn, đến đầu tháng 9-2013 giá giảm mạnh. Giá XK bình quân trong 8 tháng qua đã giảm 15,04 USD/tấn so với cùng kỳ năm 2012.

Lý giải về tình hình trên, VFA cho biết, giá lúa, gạo trong nước trong nửa đầu tháng 8-2013 tăng do gia hạn thực hiện kế hoạch mua tạm trữ nhưng giảm trở lại sau khi kết thúc đợt mua tạm trữ vào ngày 15-8-2013 do XK chậm và nhu cầu yếu. Mặt khác, hợp đồng XK gạo đăng ký trong tháng 8-2013 giảm mạnh và đạt mức thấp nhất trong 2 năm qua. Nguyên nhân là do giá thị trường sụt giảm vì nguồn cung lớn bởi trùng vào thời điểm Thái Lan xả kho bán hạ giá. Lũy kế đăng ký hợp đồng XK 8 tháng qua cũng giảm so với cùng kỳ. Tuy nhiên, vấn đề quan ngại là số hợp đồng đã ký nhưng chưa thực hiện sẽ bị hủy nhiều trong thời gian tới, trong khi hợp đồng mới bị hạn chế do giá thị trường tiếp tục giảm, sẽ ảnh hưởng đến kế hoạch giao hàng cuối năm.

Một khó khăn khác cũng được Bộ Công Thương đề cập đến đó là thị trường gạo đang có những thay đổi quan trọng những năm gần đây, nhiều nước sản xuất, xuất khẩu gạo đã có những thay đổi quan trọng về chính sách đối với mặt hàng lúa gạo. Một số quốc gia đã dùng ngân sách rất lớn để mua gạo với giá cao cho người sản xuất như Thái Lan, Ấn Độ, Trung Quốc; một số nước tận dụng lợi thế về điều kiện tự nhiên, đất đai, khí hậu, điều kiện canh tác nên gạo có chất lượng và có thương hiệu hoặc tận dụng ưu thế về vị trí địa lý gần thị trường tiêu thụ, cước vận tải thấp để giành ưu thế cạnh tranh trên thị trường. Cụ thể, Ấn Độ, nước sản xuất gạo lớn thứ 2 thế giới đã quay lại thị trường xuất khẩu, trong khi các nước như Myanmar, Campuchia, Pakistan đều nỗ lực gia tăng sản lượng gạo xuất khẩu. Trong khi đó, các nước nhập khẩu lại thực hiện điều chỉnh chính sách nhập khẩu theo hướng tăng cường tự túc lương thực, đa dạng hóa nguồn cung, nhập đủ dùng, không tăng lượng tồn kho và quan sát thị trường để tìm kiếm cơ hội nhập khẩu với giá có lợi nhất.

Tình hình trên làm tăng lượng cung gạo toàn cầu, tăng tồn kho tại các nước xuất khẩu và làm thay đổi quan hệ cung-cầu theo hướng thị trường thuộc về người mua.

Nhận định về tình hình thị trường XK gạo trong thời gian tới, VFA cho rằng, thị trường gạo thế giới đang đến thời điểm khủng hoảng thừa và khó khăn nhất trong 2 năm trở lại đây, kể từ khi Thái Lan thực hiện chính sách trợ giá lúa cao cho nông dân nước này và cũng là thời điểm Ấn Độ quay trở lại tham gia thị trường XK mạnh mẽ. Với tình hình này thì xuất khẩu gạo Việt Nam sẽ còn gặp nhiều khó khăn trong những tháng cuối năm 2013. VFA dự kiến xuất khẩu gạo năm nay sẽ chỉ đạt khoảng 7-7,2 triệu tấn (mục tiêu đề ra từ đầu năm là 7,5 triệu tấn), kim ngạch khoảng 3 tỷ USD.

Gạo VN chưa được đánh giá cao

Theo ông Phạm Văn Bảy, Phó Chủ tịch Hiệp hội Lương thực Việt Nam, ngành sản xuất, xuất khẩu gạo Việt Nam cũng đã bộc lộ nhiều bất cập. Trước hết, chất lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam chưa được đánh giá cao trên thị trường, chưa xây dựng được thương hiệu gạo, giá gạo xuất khẩu không ổn định. Bên cạnh đó, nhiều thương nhân xuất khẩu gạo không thực sự định hướng đầu tư lâu dài cho hoạt động kinh doanh xuất khẩu, thiếu chiến lược kinh doanh và mở rộng thị trường, chưa gắn kết được khâu sản xuất với chế biến xuất khẩu.

Ngoài ra, sản xuất hiện chưa thực sự hướng tới yêu cầu của thị trường tiêu thụ, vẫn còn tình trạng sản xuất theo phong trào, thậm chí là theo những lợi ích trước mắt mà chưa tính đến những lợi ích lâu dài. Một số nơi sản xuất không đảm bảo kỹ thuật canh tác dẫn tới chất lượng không đảm bảo, bị pha tạp nên doanh nghiệp khó thu mua, xuất khẩu và người sản xuất phải chấp nhận bán với giá thấp. Trong khi đó, doanh nghiệp Việt Nam cũng không có khả năng dự trữ lúa gạo lâu dài, lại phải chịu áp lực từ lãi suất ngân hàng nên phải bán nhanh, dẫn đến giá giảm.

Giải pháp điều hành

- Xây dựng thương hiệu cho gạo Việt

Có thể thấy, hiện chúng ta vẫn loay hoay trên hành trình xây dựng thương hiệu gạo Việt Nam. Do đó, mặc dù có số lượng xuất khẩu gạo lớn nhất, nhì thế giới nhưng gạo Việt Nam vẫn chưa có chỗ đứng vững chắc trên thị trường. Đáng chú ý, mới đây, dư luận lại đang xôn xao về hiện tượng gạo Việt Nam nhưng lại mang những tên gạo nước ngoài như: Gạo thơm Thái, gạo Mỹ, gạo Đài Loan...vô tình trực tiếp xây dựng thương hiệu cho gạo nước ngoài.

Theo phân tích của các chuyên gia, nhược điểm lớn của gạo xuất khẩu Việt Nam là thường bị lẫn lộn nhiều giống, tạp hạt có màu và thời gian giao hàng cho khách thường chậm trễ, nên thương hiệu gạo Việt Nam khó tạo dấu ấn lâu trong lòng người tiêu dùng. Bởi thế, chừng nào chưa giải được bài toán chất lượng cho hạt gạo thì khó có thể xây dựng và giữ được thương hiệu gạo Việt Nam trên thị trường thế giới. Cũng theo các chuyên gia, việc xây dựng thương hiệu gạo chính là cách để nâng cao giá trị xuất khẩu cho hạt gạo Việt Nam. Với việc làm này, có thể tham khảo kinh nghiệm của Thái Lan. Khi bắt tay xây dựng thương hiệu gạo thì việc làm trước tiên là từ khâu giống lúa.

Theo ông Trần Tuấn Anh, Thứ trưởng Bộ Công Thương, để giải quyết tình trạng giá xuất khẩu gạo giảm, giải pháp quan trọng là cần tập trung vào việc phát triển thương hiệu gạo của Việt Nam. Theo đó, Hiệp hội Lương thực Việt Nam cần phối hợp với các địa phương và các doanh nghiệp cần tăng cường quảng bá thương hiệu để gạo Việt Nam có cơ sở khẳng định vị trí, uy tín và sức cạnh tranh trên thị trường thế giới. Cụ thể, cần tổ chức và tham gia các hội chợ, triển lãm, giới thiệu sản phẩm gạo Việt Nam, tổ chức các chương trình đón các doanh nghiệp nhập khẩu của nước ngoài vào Việt Nam trực tiếp nghiên cứu, tìm hiểu và nhập khẩu gạo Việt Nam.

Giáo sư, tiến sỹ Bùi Chí Bửu, Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam cho rằng: Muốn có thương hiệu đích thực, chất lượng gạo phải biểu hiện thống nhất theo một chuẩn mực mà người tiêu dùng chấp nhận. Muốn vậy, Việt Nam phải có chiến lược thương mại hóa sản phẩm theo nguyên tắc bắt đầu từ hạt lúa. Có nghĩa là, doanh nghiệp phải đầu tư vùng nguyên liệu từ khi gieo sạ, thu hoạch cho đến lúc chế biến thành phẩm. Tất cả mọi tiêu chuẩn công bố với khách hàng phải thực sự đúng. Tỷ lệ trộn mẫu gạo nguyên liệu phải chuẩn xác. Khi có được chữ “tín” với khách hàng sẽ trở thành thương hiệu mạnh trên thị trường. Thực tế, Việt Nam đang sản xuất lúa trong điều kiện quy mô đất nhỏ, manh mún, hợp tác hóa thấp, nội dung này rất khó thực hiện nếu chúng ta không mạnh dạn “tổ chức lại sản xuất theo hướng hợp tác hóa.”

- Cải thiện sản xuất, nâng cao đời sống nhân dân

Tại Hội thảo “Nâng cao giá trị gạo xuất khẩu Việt Nam" diễn ra đầu tháng 9/2013, ông Torsten Velden, Tổng Giám đốc công ty Bayer CropScience Việt Nam đã vạch ra kế hoạch hành động mới cho sản xuất lúa gạo tại Việt Nam thông qua giải pháp "Bayer Much More Rice".

Đây là quy trình kết hợp từ khâu xử lý giống, thuốc trừ sâu, trừ nấm bệnh dựa trên tập quán sử dụng của nông dân để đạt năng suất cao. Quy trình đã được Viện Nghiên cứu Lúa ĐBSCL thông qua và xác nhận đạt hiệu quả cao trong việc tăng năng suất, chất lượng cũng như tăng lợi nhuận cho người nông dân. Giải pháp này đã được triển khai thí điểm ở một số địa điểm tại tỉnh Hậu Giang và kết quả cho thấy: giảm chi phí đầu vào, tăng năng suất lúa và thu nhập tăng 40% so với trước khi thực hiện dự án.

Theo ông Velden, để “cải thiện sản xuất lúa gạo, nâng cao đời sống nông dân tại Việt Nam”, ông có kế hoạch cụ thể 4 bước: Đi đầu trong phát minh cải tiến mới; Nâng cao năng lực cho nhà nông bằng cách cung cấp cho họ công cụ, kỹ thuật; Phát triển sản xuất bền vững và thân thiện với môi trường; Mở rộng quan hệ đối tác trên toàn chuỗi giá trị lúa gạo, giữa nhà nước và tư nhân.

“Đầu tư vào nghiên cứu và phát triển nông nghiệp, đồng thời phải liên tục có các giải pháp cải tiến mới là cách hiệu quả nhất để giúp ngành nông nghiệp phát triển lâu dài. Tập đoàn Bayer cam kết trong việc đầu tư 5 tỷ Euro cho nghiên cứu và phát triển nông nghiệp giai đoạn 2011-2016, tiếp tục thúc đẩy các giải pháp sáng tạo để kiểm soát sâu bệnh và cỏ dại, nâng đầu tư vào các lĩnh vực nghiên cứu, lai tạo các loại hạt giống cho năng suất cao cũng như các hợp chất mới để cải thiện sinh trưởng cây trồng”, ông Velden nói.

- Tạo thành chuỗi sản xuất - kinh doanh

Thực tế trong xuất khẩu gạo cũng cho thấy, việc liên kết giữa các nhà sản xuất, doanh nghiệp chế biến xuất khẩu còn lỏng lẻo, chưa hình thành được chuỗi cung ứng xuất khẩu dẫn đến hiệu quả xuất khẩu chưa tương xứng so với tiềm năng.

Vừa qua, Thủ tướng đã phê duyệt chương trình sản phẩm quốc gia, trong đó lúa gạo là sản phẩm ưu tiên số một. Hiện, Bộ NN&PTNT đã giao Cục Trồng trọt chủ trì làm đầu mối phối hợp với tất cả viện nghiên cứu, các tỉnh, thành xây dựng khung đề án phát triển sản phẩm quốc gia (lúa, nấm ăn, nấm dược liệu và cá tra). Theo đó, Đề án này sẽ bao gồm các khâu từ chọn tạo, sản xuất kinh doanh giống, sản xuất lúa hàng hóa chất lượng và năng suất cao, ổn định cho tới tổ chức xây dựng thương hiệu gạo Việt Nam phục vụ xuất khẩu... tạo thành một chuỗi sản xuất - kinh doanh hoàn thiện, chứ không chỉ có mỗi khâu sản xuất.

Ngoài ra, cũng cần phải lưu ý tới giải pháp tình thế mang tính chất bình ổn giá, điều tiết thị trường với chính sách thu mua tạm trữ lúa gạo nhằm hỗ trợ gián tiếp cho người nông dân thông qua việc giữ giá lúa gạo trong thời gian cao điểm về thu hoạch khi lúa gạo tồn đọng, chưa tiêu thụ và xuất khẩu kịp. Chính sách này được triển khai cũng góp phần tạo điều kiện cho nông dân, thương nhân, doanh nghiệp kinh doanh chủ động định hướng trong thu hoạch, tiêu thụ lúa, góp phần kiềm chế tình trạng sụt giảm giá, đảm bảo có lãi cho người trồng lúa; đồng thời, tạo điều kiện giữ được mặt bằng giá xuất khẩu, hạn chế ép giá và cạnh tranh phá giá trong bối cảnh thị trường xuất khẩu đang bị cạnh tranh gay gắt. Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Vũ Văn Tám cho biết: Bộ NN&PTNT đang phối hợp với các Bộ, ngành xây dựng Dự thảo quy chế liên quan đến tạm trữ lúa gạo trình Chính phủ trong thời gian tới để chuỗi liên kết từ sản xuất đến tiêu dùng, xuất khẩu chủ động, đồng thời đảm bảo 3 mục tiêu theo hướng: Nông dân trồng lúa có lãi, điều tiết thị trường, tạo điều kiện xuất khẩu và tiêu thụ gạo trong nước.

Thiết nghĩ, nếu triển khai đồng bộ các giải pháp trên, thực sự quyết tâm thực hiện triệt để, cán cân xuất khẩu gạo Việt Nam sẽ cân bằng hơn cả về lượng và chất, đảm bảo xuất khẩu gạo thực sự tăng trưởng theo hướng bền vững.

Tài liệu tham khảo:

1. Tình hình kinh tế xã hội 8 tháng đầu năm 2013, Tổng cục Thống kê.
2. Xuất khẩu gạo trong 8 tháng giảm cả về lượng và giá, http://vietstock.vn/
3. Bayer và giải pháp nâng giá trị gạo Việt xuất khẩu http://nongnghiep.vn
4. Đồng bộ các giải pháp để nâng cao giá trị xuất khẩu gạo Việt Nam, http://dangcongsan.vn

Trích nguồn:NCSEIF
Tác giả: La Hoàn (tổng hợp)
  Email    In


 

Bình luận

Mã xác nhận:
Nhập mã xác nhận:
 

Tìm kiếm

Số lượt truy cập : 1097202