Tin Kinh tế- xã hội  > Kinh tế thế giới > Hàn Quốc

Kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực nông thôn Hàn Quốc và bài học cho Việt Nam

Cập nhật lúc: 19/06/2013 09:01:17 AM

Phát triển nguồn nhân lực nông thôn là một trong những yếu tố quan trọng đầu tiên của toàn bộ chính sách phát triển nguồn nhân lực nông thôn, nó tạo ra nền tảng và căn cứ để xây dựng các chương trình, chính sách và giải pháp thúc đẩy phát triển các thành tố của nguồn nhân lực phát triển theo một định hướng nhất quán, dài hạn và đồng bộ.

Thực tiễn cho thấy, các quốc gia thành công trong phát triển nguồn nhân lực nông thôn đều phải có chiến lược phát triển nguồn nhân lực nông thôn rõ ràng và nhất quán, tạo cơ sở để triển khai tốt các chính sách cụ thể với mục tiêu thúc đẩy nguồn nhân lực phát triển theo định hướng đã định của Nhà nước. 

1. Kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực nông thôn của Hàn Quốc
1.1. Xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực nông thôn
 
Chính phủ Hàn Quốc tiến hành song song việc tăng đầu tư ngân sách vào đào tạo người dân nông thôn với mục tiêu cao nhất là làm thay đổi suy nghĩ thụ động, trông chờ ỷ lại của người dân vào Nhà nước đã ngự trị trong phần lớn nông dân nước này qua nhiều thế kỷ. Mục tiêu của chính sách đào tạo nông dân là giúp họ có niềm tin mãnh liệt vào chính mình trước những khó khăn về vật chất và tinh thần để họ trở nên tích cực, năng động, sáng tạo đối với sự nghiệp phát triển nông nghiệp, nông thôn trên đất nước Hàn Quốc. Phong trào xây dựng nông thôn mới là một trong những kinh nghiệm tốt của Hàn Quốc trong việc định hướng cho chiến lược phát triển nông thôn nói chung và phát triển nguồn nhân lực nông thôn nói riêng. Trong phong trào này, Chính phủ Hàn Quốc đã đề cao và nhấn mạnh yếu tố quan trọng nhất trong phát triển nông thôn là “phát triển tinh thần của nông dân”, lấy kích thích vật chất nhỏ kết hợp với đào tạo và sự cởi mở, thông thoáng của chính sách để tạo động lực kích thích mạnh mẽ tinh thần của người dân nông thôn và qua đó phát huy nguồn vốn nội lực to lớn tiềm tàng của người dân nông thôn.
1.2. Đào tạo chuyên môn, chuyển giao kiến thức nghề nghiệp, kỹ năng làm việc cho người lao động nông thôn theo nhu cầu phát triển của các ngành kinh tế
 
Chuyển giao kiến thức, đào tạo nghề, kỹ năng chuyên môn cho người lao động nông thôn để tạo ra năng lực làm việc có năng suất lao động cao là công việc chung của cả Nhà nước, các doanh nghiệp và tổ chức kinh tế trong xã hội. Kinh nghiệm của Hàn Quốc về vấn đề này là rất rõ ràng. Chính phủ phải là nhà đầu tư lớn nhất và toàn diện nhất vào xây dựng các cơ sở đào tạo nghề, nâng cao nghiệp vụ, kỹ năng cho người lao động. Các doanh nghiệp và cơ sở kinh tế có trách nhiệm trong việc đưa ra nhu cầu, kế hoạch về sử dụng lao động và tham gia cùng Chính phủ dưới nhiều hình thức khác nhau trong triển khai các chương trình đạo tạo nghề cho người lao động mà mình đang sử dụng hoặc sẽ sử dụng.
 
Để có nguồn nhân lực đáp ứng được yêu cầu phát triển của kinh tế nông thôn, Chính phủ phải chủ động xây dựng và công bố các định hướng phát triển kinh tế trong dài hạn, trung hạn và ngắn hạn trên quy mô cả nước và đối với từng vùng, trên cơ sở đó hình thành kế hoạch phát triển nguồn nhân lực đáp ứng cho các nhu cầu của từng ngành và lĩnh vực kinh tế trên quy mô cả nước và đối với từng vùng, đặc biệt trong điều kiện nền kinh tế đang trong quá trình đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành, lĩnh vực để thực hiện CNH, HĐH. Trong qua trình này, Chính phủ phải thường xuyên theo dõi sự biến chuyển của cơ cấu kinh tế để điều chỉnh kịp thời công tác đào tạo nguồn nhân lực mới cho các ngành đang và sẽ hình thành và đào tạo lại người lao động ở những ngành bị mất đi để giúp họ có đủ năng lực chuyển sang hoạt động ở các ngành kinh tế mới.
 
Chính phủ phải chủ động đầu tư vào sự nghiệp đào tạo nguồn nhân lực cho quốc gia với những nghề mới, bao gồm các hoạt động dạy nghề cơ bản để tạo ra người lao động có trình độ chuyên môn về lý thuyết và có tay nghề thực tiễn, đủ khả năng đáp ứng tốt nhất các yêu cầu của nền kinh tế. Nhà nước luôn giữ vai trò đầu tư vào xây dựng và nâng cao chất lượng hệ thống trường và các chương trình đào tạo nghề theo đúng yêu cầu của nền kinh tế để chuyển lực lượng lao động từ không có kỹ năng hoặc kỹ năng thấp sang lực lượng lao động có kỹ năng cao là việc làm căn bản của mỗi quốc gia. 
 
Hàn Quốc đã triển khai chính sách tín dụng hỗ trợ cho lực lượng lao động nông nghiệp trẻ để họ học nghề mới, đặc biệt là lao động mới bước vào nghề. Chương trình này được triển khai sâu rộng ở các khu vực nông thôn, là cầu nối giữa các chuyên gia và các nhà nông có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực nông nghiệp, sau đó bổ nhiệm những người này vào các vị trí tư vấn và giám hộ cho các đối tượng lao động trẻ còn thiếu nhiều kinh nghiệm trong các hoạt động liên quan tới nông nghiệp. Nhà nước Hàn Quốc đứng ra chi trả các khoản chi phí về tư vấn, đào tạo và giám hộ cho những người thực hiện hoạt động này. Hàn Quốc đã chủ động định hướng cho các trường trung học bổ sung ngay vào chương trình giảng dạy một số  môn học nghề mà nền kinh tế đang cần với số học sinh trung học tham gia tới khoảng 40-50% tổng số đang theo học, từ đó tạo ra lực lượng lao động trẻ có hiểu biết và có kỹ năng làm việc ở mức tối thiểu ở các ngành nghề đang phát triển mở rộng, đáp ứng đúng nhu cầu của nền kinh tế và toàn dụng được số học sinh trung học sau tốt nghiệp. 
 
2.Bài học cho Việt Nam trong quá trình xây dựng nông thôn mới
 
Thứ nhất, phát triển nguồn nhân lực nông thôn phải được đặt trong tổng thể chính sách phát triển nguồn nhân lực cho yêu cầu công nghiệp hóa và hiện đại hóa nền kinh tế.
 
Phát triển nguồn nhân lực nông thôn không thể tách rời phát triển nguồn nhân lực chung của nền kinh tế, nói cách khác, việc phát triển nguồn nhân lực cho khu vực nông thôn phải gắn kết với việc phát triển nhân lực cho toàn nền kinh tế. Do đó, phát triển nguồn nhân lực nông thôn phải được định hướng theo sự phát triển và chuyển dịch cơ cấu toàn nền kinh tế, chứ không thể chỉ riêng cho khu vực nông thôn, bởi vì kinh tế nông thôn không thể tách rời kinh tế chung của quốc gia và phải hướng theo sự phát triển chung đó.
 
Thứ hai, chính sách phát triển nguồn nhân lực nông thôn có những đặc thù riêng so với chính sách phát triển nguồn nhân lực chung.
 
- Trong khi chính sách chung phải xem xét các mục tiêu phát triển nhân lực cho sự phát triển của các ngành kinh tế trong dài hạn, trung hạn và ngắn hạn thì chính sách phát triển nguồn nhân lực nông thôn còn phải xem xét mục tiêu chuyển dịch một bộ phận nhân lực từ nông thôn ra thành thị và các khu công nghiệp và chuyển dịch trong nội bộ khu vực nông thôn (phân công lại lao động nông thôn).
 
- Phát triển nguồn nhân lực nông thôn phải tính đến quy hoạch phát triển nông thôn dài hạn, gắn với công nghiệp hóa nền kinh tế. Điểm đặc thù quan trọng nhất của chính sách phát triển nguồn nhân lực nông thôn là khu vực sản xuất nông nghiệp (bao gồm cả nông, lâm, ngư nghiệp) phải được xem xét cẩn trọng trong các mối quan hệ với tăng trưởng, an ninh lương thực và việc làm của người lao động để hoạch định chính sách về nhân lực cho phù hợp với khu vực này trong các giai đoạn của toàn bộ quá trình công nghiệp hóa.
 
Đây là những điểm rất quan trọng tạo ra sự khác biệt trong chính sách phát triển nguồn nhân lực nông thôn ở các nước và cũng là lý do dẫn đến thành công hay chưa thành công ở từng nước, từng giai đoạn phát triển.
 
Thứ ba, chính sách chi tiêu cho phát triển nguồn nhân lực nói chung và nguồn nhân lực nông thôn nói riêng phải được coi là một bộ phận quan trọng của chính sách đầu tư công.
 
Nghiên cứu kinh nghiệm của Hàn Quốc cho thấy rất rõ vai trò của vốn đầu tư nhà nước vào nhiều mặt khác nhau của chương trình phát triển nguồn nhân lực nói chung và nguồn nhân lực nông thôn nói riêng. Sự thành công trong phát triển nguồn nhân lực nông thôn phụ thuộc rất lớn vào quan điểm và mức độ chi tiêu của Nhà nước vào giáo dục, văn hóa và đào tạo nghề cho người lao động chuẩn bị bước vào nghề và những lao động đang làm việc. Không có nước nào mà Chính phủ lại coi nhẹ chi tiêu ngân sách vào các hoạt động giáo dục và đào tạo người lao động để có nguồn nhân lực chất lượng cao (có sức khỏe, thể lực tốt, có văn hóa đúng về làm việc và lao động có kỹ năng, tay nghề chuyên môn phù hợp với yêu cầu của các ngành kinh tế mới).
 
Cùng với phân bổ ngân sách thỏa đáng vào giáo dục văn hóa và đào tạo nghề cho người động xã hội nói chung và nông thôn nói riêng. Chính phủ đóng vai trò là người định hướng các chi tiêu này sao cho nguồn nhân lực tạo ra đáp ứng được những yêu cầu ngày càng đa dạng và tăng lên về chất lượng người lao động của các ngành, lĩnh vực kinh tế. Vì vậy, việc sử dụng vốn ngân sách trong giáo dục, đào tạo người lao động phải được quan tâm đúng mức và có ý nghĩa đảm bảo cho sự thành công của chính sách phát triển nguồn nhân lực.
 
Thứ tư, những điểm cần lưu ý khi áp dụng các kinh nghiệm quốc tế cho Việt Nam.
 
- Đào tạo nghề và giáo dục kỹ năng chuyên môn thường xuyên cho người lao động, nhất là lao động nông thôn rất đóng vai trò quan trọng trong vấn đề phát triển nguồn nhân lực. Vì vậy, cần chú trọng vào việc đầu tư đầy đủ và đồng bộ vào các chương trình giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực, đặc biệt là nhân lực nông thôn để rút ngắn khoảng cách về kỹ năng chuyên môn cho người lao động. 
 
- Dân số đông thường đi đôi với nguồn nhân lực thấp kém về mọi mặt. Đây là vấn đề phổ biến ở các quốc gia đông dân như Việt Nam do căn bản là thiếu nguồn lực để đào tạo số nhân lực tăng lên hàng năm. Do đó, Việt Nam cần phải có một chính sách dân số thông minh, quyết đoán theo hướng phát triển dân số phải đi đôi với khả năng đào tạo và khả năng tạo việc làm mới của xã hội. Sự toàn dụng lao động trong đó có lao động nông nghiệp, nông thôn phụ thuộc rất nhiều vào khả năng thu dụng lao động phi nông nghiệp hàng năm, để chuyển một bộ phận lao động nông nghiệp sang phi nông nghiệp, đáp ứng đúng yêu cầu công nghiệp hóa nền kinh tế.
 
- Cần phân biệt sự khác nhau giữa số lượng dân số với sức mạnh của nguồn nhân lực. Dân số đông mới chỉ là điều kiện cần để phát triển nguồn nhân lực, nhưng đồng thời lại là nguy cơ tạo ra sự yếu kém của nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực trong nông nghiệp, nông thôn. Vì vậy, Việt Nam cần gắn chính sách dân số vào chính sách đào tạo nguồn nhân lực cho toàn nền kinh tế nói chung và cho kinh tế nông nghiệp, nông thôn nói riêng.
 
Tài liệu tham khảo: 
1. Kyung-Ryang Kim (2011), Transfer of Agricultural Technology and Development Experience of Korea: Seed Potato Production System in Vietnam, (bài viết cho Hội nghị Nông nghiệp bền vững ở châu Á, 10-13/10/2011 tại Hà Nội). 
2. Choe Yangboo (2011), The Problematic Situation of Agriculture and Rural Korea in Industrialization, (bài viết cho Hội nghị Nông nghiệp bền vững ở châu Á 10-13/10/2011 tại Hà Nội).
3. Nguyễn Văn Hùng, Nguyễn Thị Linh Hương (2013), “Kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực nông thôn của Hàn Quốc”, Tạp chí Kinh tế và Dự báo 2/2013.
 
Trích nguồn:NCSEIF
Tác giả: Linh Hương
  Email    In


 

Bình luận

Mã xác nhận:
Nhập mã xác nhận:
 

Tìm kiếm

Số lượt truy cập : 1097202