Tin Kinh tế- xã hội  > Kinh tế thế giới > Hàn Quốc

Cải cách việc sử dụng lao động ở Hàn Quốc những năm 90: Mục tiêu dân chủ và toàn cầu hóa

Cập nhật lúc: 19/06/2013 08:53:15 AM

Từ năm 1995, Chính phủ và giới doanh nghiệp Hàn Quốc đã đẩy mạnh cải cách theo định hướng thị trường trước khi trở thành thành viên của tổ chức OECD, phù hợp với xu hướng toàn cầu hóa. Những vấn đề được đưa vào các chương trình nghị sự là cải cách cơ cấu kinh tế, cải cách giáo dục và cải cách việc sử dụng lao động. Nhận thức được lợi ích của việc sửa đổi Luật Lao động để hiện đại hóa tổ chức lao động phù hợp với chuẩn quốc tế, tạo điều kiện cho việc Hàn Quốc gia nhập tổ chức OECD, chính phủ Hàn Quốc đã áp dụng phương pháp tiếp cận theo hai hướng song song cùng với cải cách lao động là theo đuổi dân chủ hóa và toàn cầu hóa cùng một lúc.

Những năm 90 là thời kỳ nền kinh tế Hàn Quốc đã thực hiện sự chuyển hóa từ mô hình tăng trưởng theo sự dẫn dắt của chính phủ sang mô hình kinh tế mở, định hướng thị trường. Dân chủ hóa và nhu cầu thay đổi mạnh mẽ trong cơ chế phân phối đòi hỏi nền kinh tế Hàn Quốc phải có những phản ứng kịp thời trong việc thay đổi cơ cấu kinh tế đáp ứng được sự thay đổi của nền kinh tế thế giới đã có sự thay đổi to lớn từ sự trỗi dậy của nền kinh tế Trung Quốc trong thời kỳ này. Theo đó, việc tái cơ cấu các ngành sẽ bắt đầu bằng việc chuyển dịch thâm dụng lao động: các doanh nghiệp vừa và nhỏ phải đối mặt với chi phí nhân công cao và cải cách lao động. 
 
Trong mọi trường hợp, các nhà quản lý doanh nghiệp bắt đầu đa dạng hóa hợp đồng lao động để giảm thiểu sự gia tăng nhanh chóng của chi phí lao động, điều này đã tăng lên nhanh chóng kể từ khi thực hiện dân chủ hóa năm 1987. Hợp đồng lao động có thời hạn, việc làm gián tiếp của công nhân tạm thời hoặc thuê bên ngoài cũng nhanh chóng được mở rộng. Hệ thống nhân lực mới được đưa ra. Theo đó, căn cứ cho việc thăng chức và tăng lương được tính toán trên cơ sở thâm niên lao động. Thay đổi chiến lược trong quản lý nguồn nhân lực để giảm thiểu chi phí và hệ thống lao động cứng nhắc đã tạo ra thị trường lao động phân nhánh trong thời kỳ này.
 
Vấn đề cải cách việc sử dụng lao động chung quy là việc mở rộng các quyền cơ bản của người lao động và giúp thị trường lao động hoạt động linh hoạt. Thực tế, sự cải cách này là khá muộn màng, xuất phát từ nhu cầu cần thiết để cập nhật các quy định pháp luật theo thực tiễn. Hơn nữa, những cải cách ban đầu sửa đổi Luật Lao động năm 1989 được tiếp tục thực hiện vào năm 1996.
 
Trong bối cảnh sự dân chủ hóa được triển khai mạnh mẽ, đảng đối lập ở Hàn Quốc thời kỳ này đã cố gắng sửa đổi Luật Lao động vào năm 1988. Đây là cách làm để thích ứng với nhu cầu của người lao động là mở rộng các quyền của người lao động và giảm giờ làm. Mong muốn cải thiện các quyền lao động cơ bản của người lao động gồm việc dỡ bỏ các lệnh cấm các tổ chức công đoàn đa nguyên, mà các tổ chức này đã giúp liên minh công đoàn hiện có trở thành nhà độc quyền, sự can thiệp của bên thứ ba về cơ bản đã hạn chế hoạt động của các tổ chức, quyền tham gia của công đoàn vào các hoạt động chính trị, quyền được thành lập tổ chức của giáo viên và nhân viên chính phủ. Họ cũng tìm cách để giảm giờ làm từ 48 giờ xuống còn 44 giờ và tăng số ngày nghỉ lễ. Những động thái này cho thấy đã có sự thay đổi mạnh mẽ trong xã hội Hàn Quốc nơi được biết đến có số giờ làm việc nhiều nhất thế giới. Tuy nhiên cải cách về luật pháp, được thông qua bởi đảng đối lập – đảng chiếm ưu thế, lại bị Tổng thống bác bỏ và do đó cải cách này đã bị bóp méo. Cải cách gốc tìm cách để loại bỏ quy tắc hạn chế quá mức các quyền lao động cơ bản, nhưng trước sự phản đối mạnh mẽ của Tổng thống, dự luật cải cách lao động năm 1989 đã bị bóp méo. 
 
Kinh nghiệm thất bại năm 1989 khiến Chính phủ do dự khi bắt tay thực hiện các cuộc cải cách khác.Tuy nhiên đến năm 1995, khi Hàn Quốc cố gắng trở thành thành viên của OECD, Chính phủ mới đưa ra chương trình nghị sự cải cách tiếp theo. Chính phủ đã tuyên bố ý định của mình là sửa đổi Luật Lao động theo chuẩn quốc tế về quyền và tính linh hoạt của lao động vào năm 1995. Nhưng câu hỏi đặt ra là làm sao để kiểm soát được những mâu thuẫn dự kiến xảy ra và sẽ có thể tái xuất hiện trong quá trình sửa đổi, như đã từng xảy ra vào sự sửa đổi năm 1989. Thời điểm này, Chính phủ đang cố gắng tìm cách xây dựng một xã hội đồng thuận giữa những người lao động, quản lý và các nhóm lợi ích công thông qua các cuộc đàm phán mở. Chính phủ cũng thiết lập ủy ban thuộc tổng thống, gọi là Ủy ban Cải cách Quan hệ Ngành, như là một cơ chế cho việc đối thoại xã hội. Ủy ban được giao nhiệm vụ soạn thảo sửa đổi phục vụ cơ bản cho sự thỏa hiệp xã hội, tính đến cả sự cân nhắc các quan điểm của người lao động, đại diện doanh nghiệp và nhóm chuyên gia. Ủy ban có thể đạt được sự đồng thuận về những gì sửa đổi mới phải thông qua cuộc thỏa hiệp và thảo luận dài, mặc dù hầu hết các vấn đề nhạy cảm của chính trị không hoàn toàn được giải quyết. Ủy ban đệ trình bản dự thảo và coi như là ý muốn của nhóm lợi ích công. Tuy nhiên, bản dự thảo này lại không làm thỏa mãn cả người lao động và các doanh nghiệp. Cụ thể, về mặt tính linh hoạt của người lao động thì không được mở rộng phạm vi sa thải dựa trên cơ sở kinh tế mà chỉ được liệt kê những cái mà được thành lập theo thứ tự ưu tiên về pháp luật và không hợp pháp hóa việc sử dụng các nhân viên cơ quan giúp đỡ tạm thời đang là thực tế phổ biến. Về phía quyền lao động cơ bản, việc cho phép giáo viên và nhân viên chính phủ sắp xếp một lần nữa lại bị trì hoãn.
 
Mặc dù Ủy ban đã thực hiện nhiều nỗ lực, tuy nhiên khuôn khổ cuộc thảo luận mở không đủ năng lực để giải quyết các xung đột. Sự can thiệp đến phút cuối từ một phía của đảng cầm quyền từ chối quyền của các đoàn thể đa nguyên cho khoảng thời gian nhiều hơn ba năm tới là sự kháng cự lại mạnh mẽ từ người lao động. Sau khi bản dự thảo sửa đổi thông qua hội đồng vào ngày 26 tháng 12 năm 1996, cả hai liên đoàn FKTU và KCTU phối hợp dẫn đầu cuộc tổng đình công đòi luật lao động sửa đổi có những thay đổi mới, và sự phản kháng của người lao động trở nên mạnh mẽ hơn và rộng hơn. Được sự hỗ trợ của các tổ chức phi chính phủ (NGOs), tổ chức báo chí trong và ngoài nước, cuộc đấu tranh diễn ra mạnh mẽ, cuối cùng Chính phủ đã thay đổi luật sửa đổi vào tháng 3 năm 1997. Kết quả là, các điều khoản sa thải do nguyên nhân về kinh tế càng trở nên hạn chế và việc thi hành trì hoãn tới 2 năm. Cải cách lao động được bắt đầu bằng việc hỗ trợ mạnh mẽ từ việc dân chủ hóa và toàn cầu hóa, tạo ra một cuộc khủng hoảng chính trị lớn do sự quản lý yếu kém của quá trình cải cách trong suốt những giai đoạn cuối cùng. Trớ trêu thay, những gì tạo điều kiện thuận  lợi cho đối thoại, gồm việc kết thúc sự kích động xung đột xã hội phát sinh từ những nỗ lực cuối cùng bị lệch khỏi toàn bộ quy trình. Điều này đã tạo ra nỗ lực để phản ứng nhanh chóng và chặn trước cuộc khủng hoảng đang hiện ra lờ mờ mà có thể sẽ không xảy ra được.
 
Nguồn: “Korea’s Labor and Social Security Policy Responses during the Korean Crisis of 1998-2000” – Ministry of Strategy and Finance – Korea Development Institue, March 2010 (Chính sách an sinh xã hội và lao động Hàn Quốc trong thời kỳ khủng hoảng 1998-2000 - Bộ Tài chính và Chiến lược Hàn Quốc (MOSF) và Viện Phát triển Hàn Quốc (KDI), tháng 3/2010)
 
Trích nguồn:NCSEIF
Tác giả: Linh Hương (biên dịch)
  Email    In


 

Bình luận

Mã xác nhận:
Nhập mã xác nhận:
 

Tìm kiếm

Số lượt truy cập : 1097202